Ý kiến của bạn về chất lượng sách tại thư viện?


Thống kê truy cập
Truy cập trong tuần 8.747
Truy cập trong tháng 36.050
Truy cập trong năm 336.427
Tổng lượt truy cập 2.945.356
Lượt truy cập hiện tại 35

 

Tìm kiếm tin tức
Cành vàng lá ngọc – huyền thoại và sự thật
Ngày cập nhật 14/03/2019

Cành vàng lá ngọc là gì? Nó có phải là cành làm bằng vàng, lá làm bằng châu ngọc như người ta đồn đại? Cành vàng lá ngọc là một dạng cổ vật đặc biệt, từng hiện diện rất nhiều trong các cung điện, lăng tẩm vua chúa ở Huế.

 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Các tác phẩm này là vật minh chứng cho cuộc sống vương giả trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung – Phó giám đốc Trunng tâm Bảo tồn di tích Cô đô Huế, vì nhiều lý do, hiện nay tại Huế chỉ còn 21 chậu cành vàng lá ngọc được trưng bày trong bảo tàng và hệ thống lắng tẩm.

Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.
Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.

Cành vàng lá ngọc trong bảo tàng

Ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế) chỉ lưu giữ 4 hiện vật cành vàng lá ngọc có thân và cành cây bằng gỗ, thếp vàng, lá ngọc, gắn trong chậu pháp lam. Trong đó có 2 chậu lan, 1 chậu mai trắng, 1 chậu đào lựu.

2 chậu hoa lan có hình thức đồng dạng, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá thạch anh màu tím nhạt, lá bằng đá màu xanh nhạt, có nhụy là các hạt nhỏ màu vàng gắn vào nhau bằng các sợi kim loại.

Một trong hai chậu lan
Một trong hai chậu lan
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu kim loại màu vàng, hình chữ nhật, vát 4 góc, thành chậu chạm nổi các chi tiết hoa lá, có 4 chân quì. Hiện vật có chiều cao ~ 32cm, rộng ~ 13 cm, dài ~ 20cm.

1 chậu đào lựu, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa đỏ, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ đào có các loài lựu, trúc, nấm linh chi và cũng có 2 giả sơn màu xanh phối xung quanh.

Đào lựu
Đào lựu
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 42cm, rộng ~ 22 cm, dài ~ 32,5cm.

1 chậu mai, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá trắng, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ mai có các loài lan, cúc, trúc bằng đá để làm nên mô típ về tứ quý mai - lan - cúc - trúc, nhưng chủ thể thẩm mỹ vẫn là cây mai.

Mai trắng
Mai trắng
 
 
 
 

Mai, lan, trúc, cúc là một biểu tượng quen thuộc của thẩm mỹ phương Đông. Mai (họ mơ, đào) nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo.

Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Bởi vậy, người xưa lấy đó làm biểu tượng, đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.

 
 

Ngoài ra, còn có 2 giả sơn nhỏ phối bên cạnh. Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 55cm, rộng ~ 21,5 cm, dài ~ 32,5cm. Hiện vật mô tả cây mai trắng này là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế. 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Cành vàng lá ngọc trong các lăng tẩm

Ở lăng Tự Đức, tại nội thất điện Hòa Khiêm từ xưa đến nay có trưng bày 8 chậu cành vàng lá ngọc với nhiều kiểu dáng khác nhau, miêu tả các loài như cúc, đào, mai, lựu...

 
 

Tuy nhiên, các chậu này đều bị hư hỏng nặng, bị biến dạng nhiều, các phần hoa, lá trên cành vàng đã bị rụng và mất rất nhiều. Các chậu đặt cành vàng đều bằng thủy tinh.

Ở lăng Thiệu Trị, hiện còn và chuyển về bảo quản tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 10 chậu cành vàng lá ngọc. Diễn biến về thực trạng cũng tương tự như các chậu ở lăng Tự Đức.

 
 

Tuy nhiên, tất cả 10 chậu ở lăng Thiệu Trị đều được làm bằng pháp lam, rất tinh xảo. Các chậu cành vàng lá ngọc ở lăng Thiệu Trị có quy thức đồng dạng với 1 chậu cành vàng lá ngọc ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 
 

Cành vàng lá ngọc được thực hiện như thế nào?

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung thì trước đây, dư luận từng “băn khoăn” về loại cành vàng lá ngọc có thân và cành bằng gỗ, thếp vàng và đã từng có người đã từng đặt câu hỏi với nhà quản lý về tính chân thực của nó.

Trong sử sách, tuy không cụ thể, nhưng ít nhiều cũng đã có ghi nhận về sự có mặt của loại hình cành vàng lá ngọc kiểu này.

Gần đây nhất, khi tiến hành dịch nghĩa, chú thích cho 191 bài thơ trên điện Thái Hòa để làm luận văn thạc sĩ, ông Nguyễn Phước Hải Trung phát hiện thêm một cứ liệu rất đáng tin cậy để bổ sung cho thực tế trên.

 
 

Đó một bài thơ bằng chữ Hán được viết trên nền pháp lam ngay ở mặt trước, bên dưới một trong hai con rồng của motif lưỡng long triều nhật tại mái trước ngoại thất điện Thái Hòa. Bài thơ được viết theo lối chữ khải, màu vàng trên nền pháp lam xanh đen đã bị phong hóa:

“Lục diệp cửu vô suy/Bạch hoa xán tứ thì/Phương tùng huyền thị quả/Hắc thụ quải kim y”. (Nghĩa là: Lá xanh mãi không héo/ Hoa trắng rực bốn mùa/ Khóm cây thơm báo sẽ có quả/ Thân cây đen lại khoác áo vàng).

 
 

Ông Nguyễn Phước Hải Trung cho rằng đây là cứ liệu đáng tin cậy vì các lý do sau: Bài thơ được viết trên nền pháp lam, một loại hình chất liệu độc đáo, vốn đã thất truyền chỉ mới được nghiên cứu và phục hồi trong khoảng mươi năm lại đây.

Dù từ 1960 - 1992, điện Thái Hòa đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng chắc chắn là không có cơ sở để “trùng tu, phục hồi” các tấm pháp lam trong giai đoạn này. Thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo mô tip nhất thi nhất họa và kích thước của các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chỉ có thể phân bố đủ trên một diện tích đã xác định. Do vậy, nó bộc lộ ‘tư cách” của một loại tài liệu gốc.

 
 

Thứ hai, bài thơ được đặt trong một tổng thể với các bài có tính chất vịnh vật. Bên cạnh cành vàng lá ngọc, có một số bài thơ vịnh hoặc đề cập đến các loại đồ dùng trong cung như bình hoa, cái quạt, cái lồng ấp, tấm rèm, cây bút, mũ miện, cái sênh tiền, lá cờ ... Hơn nữa, người xưa thường miêu tả các sự vật, hiện tượng với cái nhìn “trực quan”, thấy và miêu tả sự vật qua đó gửi gắm tình cảm. Do vậy, độ “chính xác” của vật được miêu tả được xem như là một yêu cầu.

 
 

Thứ ba, câu cuối đã phản ánh một độ “chính xác” có tính định danh sự vật rất cao: Hắc thụ quải kim y (Thân cây đen lại khoác áo vàng). Câu thơ lột tả được “bản chất kỹ thuật” của quá trình sơn thếp cành vàng.

 
 

Theo công nghệ sơn thếp truyền thống, sau khi cốt của vật (ở đây là thân và cành) đã hoàn tất, người ta dùng tạp chất gồm sơn ta trộn với đất phù sa để “hom” và “bó” lên, rồi mài đi, tùy theo yêu cầu mà dao động từ 5 đến 7 lớp “hom bó” và mài đi như thế.

Sau lớp mài cuối cùng, lại dùng sơn ta phết lên, đợi ráo thì thếp vàng quỳ. Đất phù sa trộn với sơn ta sẽ cho một tạp chất có màu đen, càng để lâu càng đen, và “thân cây đen lại khoác áo vàng” cũng là hệ quả của quy trình kỹ thuật này.

 
 

Đáng tiếc là hiện nay ở Cố đô, chúng ta chỉ có cơ hội để biết và cùng nhận thức về một loại cành vàng lá ngọc có niên đại muộn của hệ thống các cổ vật “kim chi ngọc diệp” vốn tồn tại với đời sống thẩm mỹ của Hoàng cung Huế xưa.

Còn các hiện vật “kim chi ngọc diệp” vào giai đoạn hoàng kim của thời Nguyễn nay đã không còn ở Huế vì nhiều lý do lịch sử.

 
 

Ngoài bảo tàng và hệ thống di tích ở Huế, một số nhà sưu tập trong và ngoài nước cũng được cho là đang sở hữu nhiều hiện vật cành vàng lá ngọc có nguồn gốc từ triều Nguyễn.

Cách đây mấy năm, một chậu cành vàng lá ngọc của vương triều Nguyễn đã được tư nhân rao bán ở Mỹ với giá 30.000 USD, tương đương với hơn 600 triệu đồng tiền Việt.

Khánh Tường

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Các tác phẩm này là vật minh chứng cho cuộc sống vương giả trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung – Phó giám đốc Trunng tâm Bảo tồn di tích Cô đô Huế, vì nhiều lý do, hiện nay tại Huế chỉ còn 21 chậu cành vàng lá ngọc được trưng bày trong bảo tàng và hệ thống lắng tẩm.

Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.
Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.

Cành vàng lá ngọc trong bảo tàng

Ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế) chỉ lưu giữ 4 hiện vật cành vàng lá ngọc có thân và cành cây bằng gỗ, thếp vàng, lá ngọc, gắn trong chậu pháp lam. Trong đó có 2 chậu lan, 1 chậu mai trắng, 1 chậu đào lựu.

2 chậu hoa lan có hình thức đồng dạng, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá thạch anh màu tím nhạt, lá bằng đá màu xanh nhạt, có nhụy là các hạt nhỏ màu vàng gắn vào nhau bằng các sợi kim loại.

Một trong hai chậu lan
Một trong hai chậu lan
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu kim loại màu vàng, hình chữ nhật, vát 4 góc, thành chậu chạm nổi các chi tiết hoa lá, có 4 chân quì. Hiện vật có chiều cao ~ 32cm, rộng ~ 13 cm, dài ~ 20cm.

1 chậu đào lựu, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa đỏ, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ đào có các loài lựu, trúc, nấm linh chi và cũng có 2 giả sơn màu xanh phối xung quanh.

Đào lựu
Đào lựu
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 42cm, rộng ~ 22 cm, dài ~ 32,5cm.

1 chậu mai, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá trắng, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ mai có các loài lan, cúc, trúc bằng đá để làm nên mô típ về tứ quý mai - lan - cúc - trúc, nhưng chủ thể thẩm mỹ vẫn là cây mai.

Mai trắng
Mai trắng
 
 
 
 

Mai, lan, trúc, cúc là một biểu tượng quen thuộc của thẩm mỹ phương Đông. Mai (họ mơ, đào) nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo.

Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Bởi vậy, người xưa lấy đó làm biểu tượng, đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.

 
 

Ngoài ra, còn có 2 giả sơn nhỏ phối bên cạnh. Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 55cm, rộng ~ 21,5 cm, dài ~ 32,5cm. Hiện vật mô tả cây mai trắng này là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế. 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Cành vàng lá ngọc trong các lăng tẩm

Ở lăng Tự Đức, tại nội thất điện Hòa Khiêm từ xưa đến nay có trưng bày 8 chậu cành vàng lá ngọc với nhiều kiểu dáng khác nhau, miêu tả các loài như cúc, đào, mai, lựu...

 
 

Tuy nhiên, các chậu này đều bị hư hỏng nặng, bị biến dạng nhiều, các phần hoa, lá trên cành vàng đã bị rụng và mất rất nhiều. Các chậu đặt cành vàng đều bằng thủy tinh.

Ở lăng Thiệu Trị, hiện còn và chuyển về bảo quản tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 10 chậu cành vàng lá ngọc. Diễn biến về thực trạng cũng tương tự như các chậu ở lăng Tự Đức.

 
 

Tuy nhiên, tất cả 10 chậu ở lăng Thiệu Trị đều được làm bằng pháp lam, rất tinh xảo. Các chậu cành vàng lá ngọc ở lăng Thiệu Trị có quy thức đồng dạng với 1 chậu cành vàng lá ngọc ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 
 

Cành vàng lá ngọc được thực hiện như thế nào?

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung thì trước đây, dư luận từng “băn khoăn” về loại cành vàng lá ngọc có thân và cành bằng gỗ, thếp vàng và đã từng có người đã từng đặt câu hỏi với nhà quản lý về tính chân thực của nó.

Trong sử sách, tuy không cụ thể, nhưng ít nhiều cũng đã có ghi nhận về sự có mặt của loại hình cành vàng lá ngọc kiểu này.

Gần đây nhất, khi tiến hành dịch nghĩa, chú thích cho 191 bài thơ trên điện Thái Hòa để làm luận văn thạc sĩ, ông Nguyễn Phước Hải Trung phát hiện thêm một cứ liệu rất đáng tin cậy để bổ sung cho thực tế trên.

 
 

Đó một bài thơ bằng chữ Hán được viết trên nền pháp lam ngay ở mặt trước, bên dưới một trong hai con rồng của motif lưỡng long triều nhật tại mái trước ngoại thất điện Thái Hòa. Bài thơ được viết theo lối chữ khải, màu vàng trên nền pháp lam xanh đen đã bị phong hóa:

“Lục diệp cửu vô suy/Bạch hoa xán tứ thì/Phương tùng huyền thị quả/Hắc thụ quải kim y”. (Nghĩa là: Lá xanh mãi không héo/ Hoa trắng rực bốn mùa/ Khóm cây thơm báo sẽ có quả/ Thân cây đen lại khoác áo vàng).

 
 

Ông Nguyễn Phước Hải Trung cho rằng đây là cứ liệu đáng tin cậy vì các lý do sau: Bài thơ được viết trên nền pháp lam, một loại hình chất liệu độc đáo, vốn đã thất truyền chỉ mới được nghiên cứu và phục hồi trong khoảng mươi năm lại đây.

Dù từ 1960 - 1992, điện Thái Hòa đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng chắc chắn là không có cơ sở để “trùng tu, phục hồi” các tấm pháp lam trong giai đoạn này. Thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo mô tip nhất thi nhất họa và kích thước của các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chỉ có thể phân bố đủ trên một diện tích đã xác định. Do vậy, nó bộc lộ ‘tư cách” của một loại tài liệu gốc.

 
 

Thứ hai, bài thơ được đặt trong một tổng thể với các bài có tính chất vịnh vật. Bên cạnh cành vàng lá ngọc, có một số bài thơ vịnh hoặc đề cập đến các loại đồ dùng trong cung như bình hoa, cái quạt, cái lồng ấp, tấm rèm, cây bút, mũ miện, cái sênh tiền, lá cờ ... Hơn nữa, người xưa thường miêu tả các sự vật, hiện tượng với cái nhìn “trực quan”, thấy và miêu tả sự vật qua đó gửi gắm tình cảm. Do vậy, độ “chính xác” của vật được miêu tả được xem như là một yêu cầu.

 
 

Thứ ba, câu cuối đã phản ánh một độ “chính xác” có tính định danh sự vật rất cao: Hắc thụ quải kim y (Thân cây đen lại khoác áo vàng). Câu thơ lột tả được “bản chất kỹ thuật” của quá trình sơn thếp cành vàng.

 
 

Theo công nghệ sơn thếp truyền thống, sau khi cốt của vật (ở đây là thân và cành) đã hoàn tất, người ta dùng tạp chất gồm sơn ta trộn với đất phù sa để “hom” và “bó” lên, rồi mài đi, tùy theo yêu cầu mà dao động từ 5 đến 7 lớp “hom bó” và mài đi như thế.

Sau lớp mài cuối cùng, lại dùng sơn ta phết lên, đợi ráo thì thếp vàng quỳ. Đất phù sa trộn với sơn ta sẽ cho một tạp chất có màu đen, càng để lâu càng đen, và “thân cây đen lại khoác áo vàng” cũng là hệ quả của quy trình kỹ thuật này.

 
 

Đáng tiếc là hiện nay ở Cố đô, chúng ta chỉ có cơ hội để biết và cùng nhận thức về một loại cành vàng lá ngọc có niên đại muộn của hệ thống các cổ vật “kim chi ngọc diệp” vốn tồn tại với đời sống thẩm mỹ của Hoàng cung Huế xưa.

Còn các hiện vật “kim chi ngọc diệp” vào giai đoạn hoàng kim của thời Nguyễn nay đã không còn ở Huế vì nhiều lý do lịch sử.

 
 

Ngoài bảo tàng và hệ thống di tích ở Huế, một số nhà sưu tập trong và ngoài nước cũng được cho là đang sở hữu nhiều hiện vật cành vàng lá ngọc có nguồn gốc từ triều Nguyễn.

Cách đây mấy năm, một chậu cành vàng lá ngọc của vương triều Nguyễn đã được tư nhân rao bán ở Mỹ với góa 30.000 USD, tương đương với hơn 600 triệu đồng tiền Việt.

Theo Lao động online
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Cành vàng lá ngọc – huyền thoại và sự thật
Ngày cập nhật 14/03/2019

Cành vàng lá ngọc là gì? Nó có phải là cành làm bằng vàng, lá làm bằng châu ngọc như người ta đồn đại? Cành vàng lá ngọc là một dạng cổ vật đặc biệt, từng hiện diện rất nhiều trong các cung điện, lăng tẩm vua chúa ở Huế.

 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Các tác phẩm này là vật minh chứng cho cuộc sống vương giả trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung – Phó giám đốc Trunng tâm Bảo tồn di tích Cô đô Huế, vì nhiều lý do, hiện nay tại Huế chỉ còn 21 chậu cành vàng lá ngọc được trưng bày trong bảo tàng và hệ thống lắng tẩm.

Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.
Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.

Cành vàng lá ngọc trong bảo tàng

Ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế) chỉ lưu giữ 4 hiện vật cành vàng lá ngọc có thân và cành cây bằng gỗ, thếp vàng, lá ngọc, gắn trong chậu pháp lam. Trong đó có 2 chậu lan, 1 chậu mai trắng, 1 chậu đào lựu.

2 chậu hoa lan có hình thức đồng dạng, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá thạch anh màu tím nhạt, lá bằng đá màu xanh nhạt, có nhụy là các hạt nhỏ màu vàng gắn vào nhau bằng các sợi kim loại.

Một trong hai chậu lan
Một trong hai chậu lan
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu kim loại màu vàng, hình chữ nhật, vát 4 góc, thành chậu chạm nổi các chi tiết hoa lá, có 4 chân quì. Hiện vật có chiều cao ~ 32cm, rộng ~ 13 cm, dài ~ 20cm.

1 chậu đào lựu, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa đỏ, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ đào có các loài lựu, trúc, nấm linh chi và cũng có 2 giả sơn màu xanh phối xung quanh.

Đào lựu
Đào lựu
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 42cm, rộng ~ 22 cm, dài ~ 32,5cm.

1 chậu mai, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá trắng, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ mai có các loài lan, cúc, trúc bằng đá để làm nên mô típ về tứ quý mai - lan - cúc - trúc, nhưng chủ thể thẩm mỹ vẫn là cây mai.

Mai trắng
Mai trắng
 
 
 
 

Mai, lan, trúc, cúc là một biểu tượng quen thuộc của thẩm mỹ phương Đông. Mai (họ mơ, đào) nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo.

Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Bởi vậy, người xưa lấy đó làm biểu tượng, đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.

 
 

Ngoài ra, còn có 2 giả sơn nhỏ phối bên cạnh. Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 55cm, rộng ~ 21,5 cm, dài ~ 32,5cm. Hiện vật mô tả cây mai trắng này là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế. 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Cành vàng lá ngọc trong các lăng tẩm

Ở lăng Tự Đức, tại nội thất điện Hòa Khiêm từ xưa đến nay có trưng bày 8 chậu cành vàng lá ngọc với nhiều kiểu dáng khác nhau, miêu tả các loài như cúc, đào, mai, lựu...

 
 

Tuy nhiên, các chậu này đều bị hư hỏng nặng, bị biến dạng nhiều, các phần hoa, lá trên cành vàng đã bị rụng và mất rất nhiều. Các chậu đặt cành vàng đều bằng thủy tinh.

Ở lăng Thiệu Trị, hiện còn và chuyển về bảo quản tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 10 chậu cành vàng lá ngọc. Diễn biến về thực trạng cũng tương tự như các chậu ở lăng Tự Đức.

 
 

Tuy nhiên, tất cả 10 chậu ở lăng Thiệu Trị đều được làm bằng pháp lam, rất tinh xảo. Các chậu cành vàng lá ngọc ở lăng Thiệu Trị có quy thức đồng dạng với 1 chậu cành vàng lá ngọc ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 
 

Cành vàng lá ngọc được thực hiện như thế nào?

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung thì trước đây, dư luận từng “băn khoăn” về loại cành vàng lá ngọc có thân và cành bằng gỗ, thếp vàng và đã từng có người đã từng đặt câu hỏi với nhà quản lý về tính chân thực của nó.

Trong sử sách, tuy không cụ thể, nhưng ít nhiều cũng đã có ghi nhận về sự có mặt của loại hình cành vàng lá ngọc kiểu này.

Gần đây nhất, khi tiến hành dịch nghĩa, chú thích cho 191 bài thơ trên điện Thái Hòa để làm luận văn thạc sĩ, ông Nguyễn Phước Hải Trung phát hiện thêm một cứ liệu rất đáng tin cậy để bổ sung cho thực tế trên.

 
 

Đó một bài thơ bằng chữ Hán được viết trên nền pháp lam ngay ở mặt trước, bên dưới một trong hai con rồng của motif lưỡng long triều nhật tại mái trước ngoại thất điện Thái Hòa. Bài thơ được viết theo lối chữ khải, màu vàng trên nền pháp lam xanh đen đã bị phong hóa:

“Lục diệp cửu vô suy/Bạch hoa xán tứ thì/Phương tùng huyền thị quả/Hắc thụ quải kim y”. (Nghĩa là: Lá xanh mãi không héo/ Hoa trắng rực bốn mùa/ Khóm cây thơm báo sẽ có quả/ Thân cây đen lại khoác áo vàng).

 
 

Ông Nguyễn Phước Hải Trung cho rằng đây là cứ liệu đáng tin cậy vì các lý do sau: Bài thơ được viết trên nền pháp lam, một loại hình chất liệu độc đáo, vốn đã thất truyền chỉ mới được nghiên cứu và phục hồi trong khoảng mươi năm lại đây.

Dù từ 1960 - 1992, điện Thái Hòa đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng chắc chắn là không có cơ sở để “trùng tu, phục hồi” các tấm pháp lam trong giai đoạn này. Thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo mô tip nhất thi nhất họa và kích thước của các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chỉ có thể phân bố đủ trên một diện tích đã xác định. Do vậy, nó bộc lộ ‘tư cách” của một loại tài liệu gốc.

 
 

Thứ hai, bài thơ được đặt trong một tổng thể với các bài có tính chất vịnh vật. Bên cạnh cành vàng lá ngọc, có một số bài thơ vịnh hoặc đề cập đến các loại đồ dùng trong cung như bình hoa, cái quạt, cái lồng ấp, tấm rèm, cây bút, mũ miện, cái sênh tiền, lá cờ ... Hơn nữa, người xưa thường miêu tả các sự vật, hiện tượng với cái nhìn “trực quan”, thấy và miêu tả sự vật qua đó gửi gắm tình cảm. Do vậy, độ “chính xác” của vật được miêu tả được xem như là một yêu cầu.

 
 

Thứ ba, câu cuối đã phản ánh một độ “chính xác” có tính định danh sự vật rất cao: Hắc thụ quải kim y (Thân cây đen lại khoác áo vàng). Câu thơ lột tả được “bản chất kỹ thuật” của quá trình sơn thếp cành vàng.

 
 

Theo công nghệ sơn thếp truyền thống, sau khi cốt của vật (ở đây là thân và cành) đã hoàn tất, người ta dùng tạp chất gồm sơn ta trộn với đất phù sa để “hom” và “bó” lên, rồi mài đi, tùy theo yêu cầu mà dao động từ 5 đến 7 lớp “hom bó” và mài đi như thế.

Sau lớp mài cuối cùng, lại dùng sơn ta phết lên, đợi ráo thì thếp vàng quỳ. Đất phù sa trộn với sơn ta sẽ cho một tạp chất có màu đen, càng để lâu càng đen, và “thân cây đen lại khoác áo vàng” cũng là hệ quả của quy trình kỹ thuật này.

 
 

Đáng tiếc là hiện nay ở Cố đô, chúng ta chỉ có cơ hội để biết và cùng nhận thức về một loại cành vàng lá ngọc có niên đại muộn của hệ thống các cổ vật “kim chi ngọc diệp” vốn tồn tại với đời sống thẩm mỹ của Hoàng cung Huế xưa.

Còn các hiện vật “kim chi ngọc diệp” vào giai đoạn hoàng kim của thời Nguyễn nay đã không còn ở Huế vì nhiều lý do lịch sử.

 
 

Ngoài bảo tàng và hệ thống di tích ở Huế, một số nhà sưu tập trong và ngoài nước cũng được cho là đang sở hữu nhiều hiện vật cành vàng lá ngọc có nguồn gốc từ triều Nguyễn.

Cách đây mấy năm, một chậu cành vàng lá ngọc của vương triều Nguyễn đã được tư nhân rao bán ở Mỹ với giá 30.000 USD, tương đương với hơn 600 triệu đồng tiền Việt.

Khánh Tường

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Các tác phẩm này là vật minh chứng cho cuộc sống vương giả trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung – Phó giám đốc Trunng tâm Bảo tồn di tích Cô đô Huế, vì nhiều lý do, hiện nay tại Huế chỉ còn 21 chậu cành vàng lá ngọc được trưng bày trong bảo tàng và hệ thống lắng tẩm.

Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.
Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.

Cành vàng lá ngọc trong bảo tàng

Ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế) chỉ lưu giữ 4 hiện vật cành vàng lá ngọc có thân và cành cây bằng gỗ, thếp vàng, lá ngọc, gắn trong chậu pháp lam. Trong đó có 2 chậu lan, 1 chậu mai trắng, 1 chậu đào lựu.

2 chậu hoa lan có hình thức đồng dạng, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá thạch anh màu tím nhạt, lá bằng đá màu xanh nhạt, có nhụy là các hạt nhỏ màu vàng gắn vào nhau bằng các sợi kim loại.

Một trong hai chậu lan
Một trong hai chậu lan
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu kim loại màu vàng, hình chữ nhật, vát 4 góc, thành chậu chạm nổi các chi tiết hoa lá, có 4 chân quì. Hiện vật có chiều cao ~ 32cm, rộng ~ 13 cm, dài ~ 20cm.

1 chậu đào lựu, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa đỏ, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ đào có các loài lựu, trúc, nấm linh chi và cũng có 2 giả sơn màu xanh phối xung quanh.

Đào lựu
Đào lựu
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 42cm, rộng ~ 22 cm, dài ~ 32,5cm.

1 chậu mai, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá trắng, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ mai có các loài lan, cúc, trúc bằng đá để làm nên mô típ về tứ quý mai - lan - cúc - trúc, nhưng chủ thể thẩm mỹ vẫn là cây mai.

Mai trắng
Mai trắng
 
 
 
 

Mai, lan, trúc, cúc là một biểu tượng quen thuộc của thẩm mỹ phương Đông. Mai (họ mơ, đào) nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo.

Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Bởi vậy, người xưa lấy đó làm biểu tượng, đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.

 
 

Ngoài ra, còn có 2 giả sơn nhỏ phối bên cạnh. Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 55cm, rộng ~ 21,5 cm, dài ~ 32,5cm. Hiện vật mô tả cây mai trắng này là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế. 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Cành vàng lá ngọc trong các lăng tẩm

Ở lăng Tự Đức, tại nội thất điện Hòa Khiêm từ xưa đến nay có trưng bày 8 chậu cành vàng lá ngọc với nhiều kiểu dáng khác nhau, miêu tả các loài như cúc, đào, mai, lựu...

 
 

Tuy nhiên, các chậu này đều bị hư hỏng nặng, bị biến dạng nhiều, các phần hoa, lá trên cành vàng đã bị rụng và mất rất nhiều. Các chậu đặt cành vàng đều bằng thủy tinh.

Ở lăng Thiệu Trị, hiện còn và chuyển về bảo quản tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 10 chậu cành vàng lá ngọc. Diễn biến về thực trạng cũng tương tự như các chậu ở lăng Tự Đức.

 
 

Tuy nhiên, tất cả 10 chậu ở lăng Thiệu Trị đều được làm bằng pháp lam, rất tinh xảo. Các chậu cành vàng lá ngọc ở lăng Thiệu Trị có quy thức đồng dạng với 1 chậu cành vàng lá ngọc ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 
 

Cành vàng lá ngọc được thực hiện như thế nào?

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung thì trước đây, dư luận từng “băn khoăn” về loại cành vàng lá ngọc có thân và cành bằng gỗ, thếp vàng và đã từng có người đã từng đặt câu hỏi với nhà quản lý về tính chân thực của nó.

Trong sử sách, tuy không cụ thể, nhưng ít nhiều cũng đã có ghi nhận về sự có mặt của loại hình cành vàng lá ngọc kiểu này.

Gần đây nhất, khi tiến hành dịch nghĩa, chú thích cho 191 bài thơ trên điện Thái Hòa để làm luận văn thạc sĩ, ông Nguyễn Phước Hải Trung phát hiện thêm một cứ liệu rất đáng tin cậy để bổ sung cho thực tế trên.

 
 

Đó một bài thơ bằng chữ Hán được viết trên nền pháp lam ngay ở mặt trước, bên dưới một trong hai con rồng của motif lưỡng long triều nhật tại mái trước ngoại thất điện Thái Hòa. Bài thơ được viết theo lối chữ khải, màu vàng trên nền pháp lam xanh đen đã bị phong hóa:

“Lục diệp cửu vô suy/Bạch hoa xán tứ thì/Phương tùng huyền thị quả/Hắc thụ quải kim y”. (Nghĩa là: Lá xanh mãi không héo/ Hoa trắng rực bốn mùa/ Khóm cây thơm báo sẽ có quả/ Thân cây đen lại khoác áo vàng).

 
 

Ông Nguyễn Phước Hải Trung cho rằng đây là cứ liệu đáng tin cậy vì các lý do sau: Bài thơ được viết trên nền pháp lam, một loại hình chất liệu độc đáo, vốn đã thất truyền chỉ mới được nghiên cứu và phục hồi trong khoảng mươi năm lại đây.

Dù từ 1960 - 1992, điện Thái Hòa đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng chắc chắn là không có cơ sở để “trùng tu, phục hồi” các tấm pháp lam trong giai đoạn này. Thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo mô tip nhất thi nhất họa và kích thước của các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chỉ có thể phân bố đủ trên một diện tích đã xác định. Do vậy, nó bộc lộ ‘tư cách” của một loại tài liệu gốc.

 
 

Thứ hai, bài thơ được đặt trong một tổng thể với các bài có tính chất vịnh vật. Bên cạnh cành vàng lá ngọc, có một số bài thơ vịnh hoặc đề cập đến các loại đồ dùng trong cung như bình hoa, cái quạt, cái lồng ấp, tấm rèm, cây bút, mũ miện, cái sênh tiền, lá cờ ... Hơn nữa, người xưa thường miêu tả các sự vật, hiện tượng với cái nhìn “trực quan”, thấy và miêu tả sự vật qua đó gửi gắm tình cảm. Do vậy, độ “chính xác” của vật được miêu tả được xem như là một yêu cầu.

 
 

Thứ ba, câu cuối đã phản ánh một độ “chính xác” có tính định danh sự vật rất cao: Hắc thụ quải kim y (Thân cây đen lại khoác áo vàng). Câu thơ lột tả được “bản chất kỹ thuật” của quá trình sơn thếp cành vàng.

 
 

Theo công nghệ sơn thếp truyền thống, sau khi cốt của vật (ở đây là thân và cành) đã hoàn tất, người ta dùng tạp chất gồm sơn ta trộn với đất phù sa để “hom” và “bó” lên, rồi mài đi, tùy theo yêu cầu mà dao động từ 5 đến 7 lớp “hom bó” và mài đi như thế.

Sau lớp mài cuối cùng, lại dùng sơn ta phết lên, đợi ráo thì thếp vàng quỳ. Đất phù sa trộn với sơn ta sẽ cho một tạp chất có màu đen, càng để lâu càng đen, và “thân cây đen lại khoác áo vàng” cũng là hệ quả của quy trình kỹ thuật này.

 
 

Đáng tiếc là hiện nay ở Cố đô, chúng ta chỉ có cơ hội để biết và cùng nhận thức về một loại cành vàng lá ngọc có niên đại muộn của hệ thống các cổ vật “kim chi ngọc diệp” vốn tồn tại với đời sống thẩm mỹ của Hoàng cung Huế xưa.

Còn các hiện vật “kim chi ngọc diệp” vào giai đoạn hoàng kim của thời Nguyễn nay đã không còn ở Huế vì nhiều lý do lịch sử.

 
 

Ngoài bảo tàng và hệ thống di tích ở Huế, một số nhà sưu tập trong và ngoài nước cũng được cho là đang sở hữu nhiều hiện vật cành vàng lá ngọc có nguồn gốc từ triều Nguyễn.

Cách đây mấy năm, một chậu cành vàng lá ngọc của vương triều Nguyễn đã được tư nhân rao bán ở Mỹ với góa 30.000 USD, tương đương với hơn 600 triệu đồng tiền Việt.

Theo Lao động online
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Cành vàng lá ngọc – huyền thoại và sự thật
Ngày cập nhật 14/03/2019

Cành vàng lá ngọc là gì? Nó có phải là cành làm bằng vàng, lá làm bằng châu ngọc như người ta đồn đại? Cành vàng lá ngọc là một dạng cổ vật đặc biệt, từng hiện diện rất nhiều trong các cung điện, lăng tẩm vua chúa ở Huế.

 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Các tác phẩm này là vật minh chứng cho cuộc sống vương giả trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung – Phó giám đốc Trunng tâm Bảo tồn di tích Cô đô Huế, vì nhiều lý do, hiện nay tại Huế chỉ còn 21 chậu cành vàng lá ngọc được trưng bày trong bảo tàng và hệ thống lắng tẩm.

Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.
Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.

Cành vàng lá ngọc trong bảo tàng

Ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế) chỉ lưu giữ 4 hiện vật cành vàng lá ngọc có thân và cành cây bằng gỗ, thếp vàng, lá ngọc, gắn trong chậu pháp lam. Trong đó có 2 chậu lan, 1 chậu mai trắng, 1 chậu đào lựu.

2 chậu hoa lan có hình thức đồng dạng, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá thạch anh màu tím nhạt, lá bằng đá màu xanh nhạt, có nhụy là các hạt nhỏ màu vàng gắn vào nhau bằng các sợi kim loại.

Một trong hai chậu lan
Một trong hai chậu lan
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu kim loại màu vàng, hình chữ nhật, vát 4 góc, thành chậu chạm nổi các chi tiết hoa lá, có 4 chân quì. Hiện vật có chiều cao ~ 32cm, rộng ~ 13 cm, dài ~ 20cm.

1 chậu đào lựu, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa đỏ, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ đào có các loài lựu, trúc, nấm linh chi và cũng có 2 giả sơn màu xanh phối xung quanh.

Đào lựu
Đào lựu
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 42cm, rộng ~ 22 cm, dài ~ 32,5cm.

1 chậu mai, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá trắng, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ mai có các loài lan, cúc, trúc bằng đá để làm nên mô típ về tứ quý mai - lan - cúc - trúc, nhưng chủ thể thẩm mỹ vẫn là cây mai.

Mai trắng
Mai trắng
 
 
 
 

Mai, lan, trúc, cúc là một biểu tượng quen thuộc của thẩm mỹ phương Đông. Mai (họ mơ, đào) nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo.

Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Bởi vậy, người xưa lấy đó làm biểu tượng, đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.

 
 

Ngoài ra, còn có 2 giả sơn nhỏ phối bên cạnh. Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 55cm, rộng ~ 21,5 cm, dài ~ 32,5cm. Hiện vật mô tả cây mai trắng này là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế. 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Cành vàng lá ngọc trong các lăng tẩm

Ở lăng Tự Đức, tại nội thất điện Hòa Khiêm từ xưa đến nay có trưng bày 8 chậu cành vàng lá ngọc với nhiều kiểu dáng khác nhau, miêu tả các loài như cúc, đào, mai, lựu...

 
 

Tuy nhiên, các chậu này đều bị hư hỏng nặng, bị biến dạng nhiều, các phần hoa, lá trên cành vàng đã bị rụng và mất rất nhiều. Các chậu đặt cành vàng đều bằng thủy tinh.

Ở lăng Thiệu Trị, hiện còn và chuyển về bảo quản tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 10 chậu cành vàng lá ngọc. Diễn biến về thực trạng cũng tương tự như các chậu ở lăng Tự Đức.

 
 

Tuy nhiên, tất cả 10 chậu ở lăng Thiệu Trị đều được làm bằng pháp lam, rất tinh xảo. Các chậu cành vàng lá ngọc ở lăng Thiệu Trị có quy thức đồng dạng với 1 chậu cành vàng lá ngọc ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 
 

Cành vàng lá ngọc được thực hiện như thế nào?

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung thì trước đây, dư luận từng “băn khoăn” về loại cành vàng lá ngọc có thân và cành bằng gỗ, thếp vàng và đã từng có người đã từng đặt câu hỏi với nhà quản lý về tính chân thực của nó.

Trong sử sách, tuy không cụ thể, nhưng ít nhiều cũng đã có ghi nhận về sự có mặt của loại hình cành vàng lá ngọc kiểu này.

Gần đây nhất, khi tiến hành dịch nghĩa, chú thích cho 191 bài thơ trên điện Thái Hòa để làm luận văn thạc sĩ, ông Nguyễn Phước Hải Trung phát hiện thêm một cứ liệu rất đáng tin cậy để bổ sung cho thực tế trên.

 
 

Đó một bài thơ bằng chữ Hán được viết trên nền pháp lam ngay ở mặt trước, bên dưới một trong hai con rồng của motif lưỡng long triều nhật tại mái trước ngoại thất điện Thái Hòa. Bài thơ được viết theo lối chữ khải, màu vàng trên nền pháp lam xanh đen đã bị phong hóa:

“Lục diệp cửu vô suy/Bạch hoa xán tứ thì/Phương tùng huyền thị quả/Hắc thụ quải kim y”. (Nghĩa là: Lá xanh mãi không héo/ Hoa trắng rực bốn mùa/ Khóm cây thơm báo sẽ có quả/ Thân cây đen lại khoác áo vàng).

 
 

Ông Nguyễn Phước Hải Trung cho rằng đây là cứ liệu đáng tin cậy vì các lý do sau: Bài thơ được viết trên nền pháp lam, một loại hình chất liệu độc đáo, vốn đã thất truyền chỉ mới được nghiên cứu và phục hồi trong khoảng mươi năm lại đây.

Dù từ 1960 - 1992, điện Thái Hòa đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng chắc chắn là không có cơ sở để “trùng tu, phục hồi” các tấm pháp lam trong giai đoạn này. Thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo mô tip nhất thi nhất họa và kích thước của các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chỉ có thể phân bố đủ trên một diện tích đã xác định. Do vậy, nó bộc lộ ‘tư cách” của một loại tài liệu gốc.

 
 

Thứ hai, bài thơ được đặt trong một tổng thể với các bài có tính chất vịnh vật. Bên cạnh cành vàng lá ngọc, có một số bài thơ vịnh hoặc đề cập đến các loại đồ dùng trong cung như bình hoa, cái quạt, cái lồng ấp, tấm rèm, cây bút, mũ miện, cái sênh tiền, lá cờ ... Hơn nữa, người xưa thường miêu tả các sự vật, hiện tượng với cái nhìn “trực quan”, thấy và miêu tả sự vật qua đó gửi gắm tình cảm. Do vậy, độ “chính xác” của vật được miêu tả được xem như là một yêu cầu.

 
 

Thứ ba, câu cuối đã phản ánh một độ “chính xác” có tính định danh sự vật rất cao: Hắc thụ quải kim y (Thân cây đen lại khoác áo vàng). Câu thơ lột tả được “bản chất kỹ thuật” của quá trình sơn thếp cành vàng.

 
 

Theo công nghệ sơn thếp truyền thống, sau khi cốt của vật (ở đây là thân và cành) đã hoàn tất, người ta dùng tạp chất gồm sơn ta trộn với đất phù sa để “hom” và “bó” lên, rồi mài đi, tùy theo yêu cầu mà dao động từ 5 đến 7 lớp “hom bó” và mài đi như thế.

Sau lớp mài cuối cùng, lại dùng sơn ta phết lên, đợi ráo thì thếp vàng quỳ. Đất phù sa trộn với sơn ta sẽ cho một tạp chất có màu đen, càng để lâu càng đen, và “thân cây đen lại khoác áo vàng” cũng là hệ quả của quy trình kỹ thuật này.

 
 

Đáng tiếc là hiện nay ở Cố đô, chúng ta chỉ có cơ hội để biết và cùng nhận thức về một loại cành vàng lá ngọc có niên đại muộn của hệ thống các cổ vật “kim chi ngọc diệp” vốn tồn tại với đời sống thẩm mỹ của Hoàng cung Huế xưa.

Còn các hiện vật “kim chi ngọc diệp” vào giai đoạn hoàng kim của thời Nguyễn nay đã không còn ở Huế vì nhiều lý do lịch sử.

 
 

Ngoài bảo tàng và hệ thống di tích ở Huế, một số nhà sưu tập trong và ngoài nước cũng được cho là đang sở hữu nhiều hiện vật cành vàng lá ngọc có nguồn gốc từ triều Nguyễn.

Cách đây mấy năm, một chậu cành vàng lá ngọc của vương triều Nguyễn đã được tư nhân rao bán ở Mỹ với giá 30.000 USD, tương đương với hơn 600 triệu đồng tiền Việt.

Khánh Tường

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Các tác phẩm này là vật minh chứng cho cuộc sống vương giả trong hoàng tộc nhà Nguyễn. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung – Phó giám đốc Trunng tâm Bảo tồn di tích Cô đô Huế, vì nhiều lý do, hiện nay tại Huế chỉ còn 21 chậu cành vàng lá ngọc được trưng bày trong bảo tàng và hệ thống lắng tẩm.

Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.
Nổi bật trong các cây “cành vàng lá ngọc” ở bảo tàng là một cây mai trắng, được coi là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế.

Cành vàng lá ngọc trong bảo tàng

Ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế) chỉ lưu giữ 4 hiện vật cành vàng lá ngọc có thân và cành cây bằng gỗ, thếp vàng, lá ngọc, gắn trong chậu pháp lam. Trong đó có 2 chậu lan, 1 chậu mai trắng, 1 chậu đào lựu.

2 chậu hoa lan có hình thức đồng dạng, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá thạch anh màu tím nhạt, lá bằng đá màu xanh nhạt, có nhụy là các hạt nhỏ màu vàng gắn vào nhau bằng các sợi kim loại.

Một trong hai chậu lan
Một trong hai chậu lan
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu kim loại màu vàng, hình chữ nhật, vát 4 góc, thành chậu chạm nổi các chi tiết hoa lá, có 4 chân quì. Hiện vật có chiều cao ~ 32cm, rộng ~ 13 cm, dài ~ 20cm.

1 chậu đào lựu, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa đỏ, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ đào có các loài lựu, trúc, nấm linh chi và cũng có 2 giả sơn màu xanh phối xung quanh.

Đào lựu
Đào lựu
 
 
 
 

Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 42cm, rộng ~ 22 cm, dài ~ 32,5cm.

1 chậu mai, thân bằng gỗ thếp vàng, hoa bằng đá trắng, lá màu xanh nhạt. Xung quanh “gốc’ mai có các loài lan, cúc, trúc bằng đá để làm nên mô típ về tứ quý mai - lan - cúc - trúc, nhưng chủ thể thẩm mỹ vẫn là cây mai.

Mai trắng
Mai trắng
 
 
 
 

Mai, lan, trúc, cúc là một biểu tượng quen thuộc của thẩm mỹ phương Đông. Mai (họ mơ, đào) nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo.

Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Bởi vậy, người xưa lấy đó làm biểu tượng, đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.

 
 

Ngoài ra, còn có 2 giả sơn nhỏ phối bên cạnh. Toàn bộ được đặt trong chậu bằng pháp lam, hình chữ nhật vát 4 góc, trang trí hoa lá dơi, chữ thọ bằng men ngũ sắc, chậu có 4 chân hình kỷ. Hiện vật có chiều cao ~ 55cm, rộng ~ 21,5 cm, dài ~ 32,5cm. Hiện vật mô tả cây mai trắng này là hoàn chỉnh và đẹp nhất trong hệ thống cành vàng lá ngọc hiện đang lưu giữ ở Huế. 

3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
3 chậu cành vàng lá ngọc đang được trưng bày ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

Cành vàng lá ngọc trong các lăng tẩm

Ở lăng Tự Đức, tại nội thất điện Hòa Khiêm từ xưa đến nay có trưng bày 8 chậu cành vàng lá ngọc với nhiều kiểu dáng khác nhau, miêu tả các loài như cúc, đào, mai, lựu...

 
 

Tuy nhiên, các chậu này đều bị hư hỏng nặng, bị biến dạng nhiều, các phần hoa, lá trên cành vàng đã bị rụng và mất rất nhiều. Các chậu đặt cành vàng đều bằng thủy tinh.

Ở lăng Thiệu Trị, hiện còn và chuyển về bảo quản tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 10 chậu cành vàng lá ngọc. Diễn biến về thực trạng cũng tương tự như các chậu ở lăng Tự Đức.

 
 

Tuy nhiên, tất cả 10 chậu ở lăng Thiệu Trị đều được làm bằng pháp lam, rất tinh xảo. Các chậu cành vàng lá ngọc ở lăng Thiệu Trị có quy thức đồng dạng với 1 chậu cành vàng lá ngọc ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.

 
 

Cành vàng lá ngọc được thực hiện như thế nào?

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung thì trước đây, dư luận từng “băn khoăn” về loại cành vàng lá ngọc có thân và cành bằng gỗ, thếp vàng và đã từng có người đã từng đặt câu hỏi với nhà quản lý về tính chân thực của nó.

Trong sử sách, tuy không cụ thể, nhưng ít nhiều cũng đã có ghi nhận về sự có mặt của loại hình cành vàng lá ngọc kiểu này.

Gần đây nhất, khi tiến hành dịch nghĩa, chú thích cho 191 bài thơ trên điện Thái Hòa để làm luận văn thạc sĩ, ông Nguyễn Phước Hải Trung phát hiện thêm một cứ liệu rất đáng tin cậy để bổ sung cho thực tế trên.

 
 

Đó một bài thơ bằng chữ Hán được viết trên nền pháp lam ngay ở mặt trước, bên dưới một trong hai con rồng của motif lưỡng long triều nhật tại mái trước ngoại thất điện Thái Hòa. Bài thơ được viết theo lối chữ khải, màu vàng trên nền pháp lam xanh đen đã bị phong hóa:

“Lục diệp cửu vô suy/Bạch hoa xán tứ thì/Phương tùng huyền thị quả/Hắc thụ quải kim y”. (Nghĩa là: Lá xanh mãi không héo/ Hoa trắng rực bốn mùa/ Khóm cây thơm báo sẽ có quả/ Thân cây đen lại khoác áo vàng).

 
 

Ông Nguyễn Phước Hải Trung cho rằng đây là cứ liệu đáng tin cậy vì các lý do sau: Bài thơ được viết trên nền pháp lam, một loại hình chất liệu độc đáo, vốn đã thất truyền chỉ mới được nghiên cứu và phục hồi trong khoảng mươi năm lại đây.

Dù từ 1960 - 1992, điện Thái Hòa đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng chắc chắn là không có cơ sở để “trùng tu, phục hồi” các tấm pháp lam trong giai đoạn này. Thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo mô tip nhất thi nhất họa và kích thước của các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chỉ có thể phân bố đủ trên một diện tích đã xác định. Do vậy, nó bộc lộ ‘tư cách” của một loại tài liệu gốc.

 
 

Thứ hai, bài thơ được đặt trong một tổng thể với các bài có tính chất vịnh vật. Bên cạnh cành vàng lá ngọc, có một số bài thơ vịnh hoặc đề cập đến các loại đồ dùng trong cung như bình hoa, cái quạt, cái lồng ấp, tấm rèm, cây bút, mũ miện, cái sênh tiền, lá cờ ... Hơn nữa, người xưa thường miêu tả các sự vật, hiện tượng với cái nhìn “trực quan”, thấy và miêu tả sự vật qua đó gửi gắm tình cảm. Do vậy, độ “chính xác” của vật được miêu tả được xem như là một yêu cầu.

 
 

Thứ ba, câu cuối đã phản ánh một độ “chính xác” có tính định danh sự vật rất cao: Hắc thụ quải kim y (Thân cây đen lại khoác áo vàng). Câu thơ lột tả được “bản chất kỹ thuật” của quá trình sơn thếp cành vàng.

 
 

Theo công nghệ sơn thếp truyền thống, sau khi cốt của vật (ở đây là thân và cành) đã hoàn tất, người ta dùng tạp chất gồm sơn ta trộn với đất phù sa để “hom” và “bó” lên, rồi mài đi, tùy theo yêu cầu mà dao động từ 5 đến 7 lớp “hom bó” và mài đi như thế.

Sau lớp mài cuối cùng, lại dùng sơn ta phết lên, đợi ráo thì thếp vàng quỳ. Đất phù sa trộn với sơn ta sẽ cho một tạp chất có màu đen, càng để lâu càng đen, và “thân cây đen lại khoác áo vàng” cũng là hệ quả của quy trình kỹ thuật này.

 
 

Đáng tiếc là hiện nay ở Cố đô, chúng ta chỉ có cơ hội để biết và cùng nhận thức về một loại cành vàng lá ngọc có niên đại muộn của hệ thống các cổ vật “kim chi ngọc diệp” vốn tồn tại với đời sống thẩm mỹ của Hoàng cung Huế xưa.

Còn các hiện vật “kim chi ngọc diệp” vào giai đoạn hoàng kim của thời Nguyễn nay đã không còn ở Huế vì nhiều lý do lịch sử.

 
 

Ngoài bảo tàng và hệ thống di tích ở Huế, một số nhà sưu tập trong và ngoài nước cũng được cho là đang sở hữu nhiều hiện vật cành vàng lá ngọc có nguồn gốc từ triều Nguyễn.

Cách đây mấy năm, một chậu cành vàng lá ngọc của vương triều Nguyễn đã được tư nhân rao bán ở Mỹ với góa 30.000 USD, tương đương với hơn 600 triệu đồng tiền Việt.

Theo Lao động online